Đến Đơn Dương trong không khí se lạnh của buổi sớm, thú thật, tôi không hiểu lắm lí do vì sao một thỉnh sinh như mình lại có mặt ở đây, cho kì họp này. Thậm chí, từ “Convivence” (họp mặt miền dòng) viết thế nào tôi cũng chưa biết! Được bảo “đi”, thế là xách ba lô đi thôi!
Vừa ngái ngủ vừa bước xuống xe, tôi nhìn thấy các “chị lớn nhà mình” đang vui vẻ chào đón chúng tôi. Gặp lại những gương mặt thương mến, có chị đã không gặp tận “10 ngày”, lòng tôi bất giác trào dâng một cảm giác thân thuộc đến lạ. Đây được gọi là “tình chị em” chăng? Điều này làm chính tôi phải tự ngạc nhiên về mình, vì trước khi vào dòng, tôi đã nghe nhiều câu chuyện về việc “một nhóm các bà các chị sống với nhau thì kiểu gì cũng có chuyện”. Và tôi đã rất tin tưởng vào những câu chuyện này, nên quyết định bước vào nhà dòng khi ấy đối với tôi là một quyết định rất gan dạ và mạo hiểm! Tôi đã rất sợ phải sống chung với các chị em xa lạ đến từ nhiều nơi mà tôi chưa từng được đặt chân đến. Tuy nhiên, từ khi quyết định bước vào đời sống nơi hội dòng, cách tôi nhìn nhận về đời sống cộng đoàn hoàn toàn khác hẳn. Không phải là câu chuyện về các bề trên bắt trồng cây chuối ngược thì cũng phải trồng, không phải là chị này chơi xấu chị kia, không phải là chị giáo kè kè bắt lỗi từng li từng tí,… nhưng là nơi Chúa đặt để tôi khám phá và được tự do thể hiện chính mình, để từng khía cạnh nơi con người tôi được triển nở một cách rất cá vị trong tình yêu của Chúa qua sự hướng dẫn của hội dòng.
Quay trở lại câu chuyện về “buổi sáng hôm ấy”. Sự gần gũi, niềm nở của những người chị lớn khiến tôi cảm thấy lòng nhẹ nhàng hơn, không còn cảm giác e dè và lo lắng về những điều mình không biết sắp tới. Đó là những nụ cười, những cái ôm, những lời hỏi thăm rất bình dị: “Em có ngủ được không?”, “Nhận phòng rồi nghỉ một xíu em nhé.” Tôi cảm thấy mình không còn mang tâm trạng của một cô bé ngơ ngác đến tham dự một cuộc họp lớn, nhưng là của một người em nhỏ trở về với gia đình.
Ở Convivence, tôi nhận ra tình chị em được thêu dệt nên từ những điều rất nhỏ: là cùng nhau cười vang khi nhảy múa, khi chơi trò chơi; là lắng nghe những chia sẻ của nhau với trọn cả con người: đôi mắt, đôi tai, trái tim; là những bữa ăn rôm rả nhưng không kém phần thân tình; là niềm vui khi chào đón những chị em ở xa trở về; là cả những buổi tối tụ tập ăn kem, trộn bánh tráng vừa tíu tít vừa thì thầm vì sợ gây mất trật tự… Chính những điều nhỏ bé ấy đã tạo nên một bầu khí rất “ACI” nơi mà tôi biết mình được đón nhận và dần cảm thấy thuộc về.
Nhờ kì họp mặt này mà tôi có cơ hội được gặp gỡ, được trò chuyện với rất nhiều chị em. Mỗi người một tính cách, một sứ vụ, một câu chuyện. Có những chị cực kì hoạt bát và liến thoắng, có chị rất hài hước, và cũng có chị trầm tĩnh ít nói hơn. Có những chia sẻ khiến chúng tôi phải bật cười, cũng có những câu nói khiến tôi phải suy nghĩ rất lâu vì nó chạm đến một phần sâu trong lòng mình.
Trước đây, tôi thường nghĩ muốn yêu thương một người nào đó thì trước tiên mình phải “hợp” với họ đã. “Hợp” trong tính cách, trong lối sống, văn hóa, và cả trình độ nữa. Những người mà bản tính tự nhiên tôi không muốn đến gần, thì có lẽ tôi chỉ giữ mối tương quan xã giao với họ mà thôi. Nhưng qua những gì được học hỏi, được chia sẻ, tôi càng hiểu rằng tình chị em không bắt đầu từ sự giống nhau, mà từ sự hiệp nhất: những trái tim cùng chung một lý tưởng, cùng được quy tụ trong tình yêu của Chúa và cùng hướng nhìn lên Thánh Tâm Người. Dĩ nhiên, đời sống cộng đoàn không phải lúc nào cũng chỉ có tiếng cười. Mỗi người đều có những giới hạn, những khác biệt về tính cách, quan điểm, văn hóa và hoàn cảnh sống. Thế nhưng, như cô Sophia đã chia sẻ, chính nơi những khác biệt ấy, một “không gian thứ ba” được mở ra cho sự đối thoại và thấu hiểu; khác biệt không bị xóa bỏ nhưng được đón nhận và biến đổi trong Tình Yêu. Một trái tim đủ tự do và khiêm nhường, chấp nhận lùi lại để không gian này thêm thênh thang là điều mà tôi được mời gọi hướng đến trong tương lai khi cùng chung sống với các chị em của mình.
Có lẽ vì thế mà một điều tôi đặc biệt yêu nơi các chị em ACI là mỗi người đều mang một vẻ đẹp rất riêng. Từ cách ăn mặc, mái tóc, giọng ndói cho đến cách cười, cách cầu nguyện hay cách phục vụ, không ai giống ai cả. Tôi đã từng rất sợ các sơ trông như những bản sao của nhau từ vẻ bề ngoài cho đến giọng nói. Nên khi sống trong một rừng hoa mà không có bông nào giống hệt nhau, tôi cực kì hạnh phúc để cho chính mình nở rộ, đồng thời đón nhận vẻ đẹp của các chị em mình. “Chúa không thích các sơ giống nhau đâu”, cô Sophia đã nói vậy đấy! Sự khác biệt không dừng lại ở vẻ bề ngoài, ở tính cách, mà còn ở căn tính rất riêng mà Chúa ban cho mỗi người. Và với việc giữ được căn tính của mình trong khi vẫn có thể đi vào mối tương quan sâu sắc với người khác lại là điều tưởng chừng dễ nhưng không phải nơi đâu cũng được đón nhận. Hóa ra, điều Chúa mong muốn không phải là những con người được đúc từ cùng một khuôn, nhưng là những người dám sống trọn vẹn căn tính Người đã trao. Và khi mỗi người được tự do là chính mình, cộng đoàn cũng trở nên phong phú hơn, bởi mỗi người góp vào đó một sắc màu mà không ai khác có thể thay thế.
Một điều nữa để lại trong tôi nhiều ấn tượng là hình ảnh các người chị lớn dễ thương luôn âm thầm ở phía sau chăm sóc cho đàn em. Người ta hay nói với nhau, bề trên chỉ việc ngồi đó, để bề dưới làm. Nhưng ở nhà mình, tôi lại thấy các chị lớn là những người lặng thầm nhất, làm những công việc nhỏ bé nhất mà không nề hà. Có lẽ đó không chỉ là tinh thần trách nhiệm, nhưng còn là một cách yêu. Một tình yêu không cần được ghi nhận mà chỉ đơn giản là mong các em của mình được thoải mái hơn, vui tươi hơn. Tình chị em không phải lúc nào cũng phô diễn bằng những lời nói ngọt ngào, nhưng nhiều khi được viết bằng những hành động rất lặng lẽ. Điều đó dạy tôi rằng đời sống thánh hiến không chỉ được xây dựng bằng những lý tưởng to lớn mà xa vời, nhưng còn bằng những hy sinh nhỏ bé được thực hiện bằng cả trái tim. Các chị lớn của tôi không nói nhiều về việc phải yêu thương nhau, nhưng chính cách các chị âm thầm phục vụ đã trở thành lời giảng sống động nhất về tình chị em trong hội dòng.
Những ngày vui bên nhau rồi cũng đến lúc khép lại. Nhìn lại chính mình, người từng lên xe với tâm thế “được bảo đi thì đi” như tôi, lại là người cảm thấy lưu luyến khi phải nói lời tạm biệt. Những cái ôm siết cố gắng kéo dài thêm vài giây, những lời hẹn “chị phải gặp lại em đó nha”, những cánh tay còn vẫy theo chiếc xe cho đến khi khuất hẳn… tất cả khiến lòng tôi xao xuyến rất lạ. Hóa ra, chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, người ta cũng có thể nhớ về nhiều người nhiều đến thế. Ngày đến Đơn Dương, tôi còn chẳng biết “Convivence” được viết như thế nào, cũng chẳng hiểu vì sao mình phải có mặt ở đây. Vậy mà lúc ra về, điều tôi mang theo lại không chỉ là một cuốn sổ ghi đầy những điều đã chạm đến trái tim, mà còn là một trái tim đầy ắp khuôn mặt của các chị em, những tiếng cười còn vang trong ký ức và một niềm xác tín rằng Chúa đã ban cho tôi một gia đình. Có lẽ, đó mới là ý nghĩa đẹp nhất của Convivence mà tôi đã được học.
-Hồng Dương-
